Giám hộ theo quy định tại BLDS năm 2015 – Những vấn đề cốt lõi cần biết

Cập nhật:
Giam Ho Theo Quy Dinh Blds 2015 Luat Su Ha

Giám hộ là một chế định pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của những người không thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự một cách đầy đủ. Tuy nhiên, trên thực tế, không phải ai cũng nắm rõ các quy định cơ bản liên quan đến giám hộ.

Bài viết này dưới sự tham gia chia sẻ của Luật sư Trần Viết Hà và đội ngũ Công ty Luật TNHH MTV Hà và Cộng sự, nhằm phân tích, làm rõ các quy định pháp lý cốt lõi về chế định giám hộ theo Bộ luật Dân sự 2015, qua đó giúp bạn đọc hiểu đúng và áp dụng phù hợp trong thực tiễn, từ điều kiện, quyền nghĩa vụ cho đến thủ tục chấm dứt giám hộ.

Bản chất pháp lý của việc giám hộ và đối tượng được giám hộ

Để hiểu rõ quy định về giám hộ, trước hết cần xác định rõ khái niệm này dưới góc độ luật định. Bản chất của giám hộ là việc một cá nhân hoặc tổ chức đứng ra chăm sóc, đại diện và bảo vệ quyền lợi cho người không thể tự làm điều đó.

Khoản 1 Điều 46 BLDS 2015 định nghĩa cụ thể:

“1. Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).”

Bên cạnh đó, pháp luật cũng tôn trọng tối đa ý chí của các bên khi bổ sung quy định tại Khoản 2Khoản 3 Điều 46 BLDS 2015:

“2. Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu.

3. Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.”

Ai là người cần được giám hộ?

Không phải mọi đối tượng đều cần đến người giám hộ. Theo Điều 47 BLDS 2015, người được giám hộ được giới hạn trong các nhóm đối tượng sau:

“1. Người được giám hộ bao gồm:

a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;

b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con; cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ;

c) Người mất năng lực hành vi dân sự;

d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu.”

Tiêu chuẩn để trở thành người giám hộ

Người giám hộ có vai trò tác động trực tiếp đến nhân thân và tài sản của người được giám hộ. Vì vậy, cá nhân hoặc pháp nhân muốn đảm nhận vai trò này phải đáp ứng các điều kiện về năng lực và đạo đức.

Đối với cá nhân

Theo Điều 49 BLDS 2015, một cá nhân muốn làm người giám hộ phải hội tụ đủ 4 tiêu chuẩn:

“1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

2. Có tư cách đạo đức tốt và các điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.

3. Không phải là người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc người bị kết án nhưng chưa được xoá án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác.

4. Không phải là người bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con chưa thành niên.”

Đối với pháp nhân

Trong trường hợp không tìm được cá nhân thích hợp, tổ chức có thể đứng ra làm người giám hộ nếu đáp ứng Điều 50 BLDS 2015:

“1. Có năng lực pháp luật dân sự phù hợp với việc giám hộ.

2. Có điều kiện cần thiết để thực hiện quyền, nghĩa vụ của người giám hộ.”

Ngoài ra, Điều 48 BLDS 2015 cũng mở rộng quyền tự lựa chọn người giám hộ khi một người còn minh mẫn, đồng thời cho phép một cá nhân/pháp nhân có thể giám hộ đồng thời cho nhiều người nếu đủ năng lực.

Xác định người giám hộ đương nhiên

Trong nhiều trường hợp, pháp luật tự động chỉ định người giám hộ dựa trên mối quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân gần gũi nhất nhằm đảm bảo người được giám hộ nhận được sự chăm sóc tốt nhất.

Đối với trẻ chưa thành niên

Nếu thuộc trường hợp cần giám hộ, người giám hộ đương nhiên sẽ được xét theo thứ tự ưu tiên quy định tại Điều 52 BLDS 2015:

“1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ.

2. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 Điều này thì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ.

3. Trường hợp không có người giám hộ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.”

Đối với người mất năng lực hành vi dân sự

Thứ tự ưu tiên đối với người thành niên bị mất năng lực hành vi được quy định tại Điều 53 BLDS 2015 như sau:

“1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ.

3. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.”

Lưu ý: Nếu không có người giám hộ đương nhiên, Cơ quan Nhà nước (UBND cấp xã hoặc Tòa án) sẽ tiến hành cử hoặc chỉ định người giám hộ theo đúng trình tự pháp luật quy định tại Điều 54 BLDS 2015.

Quyền và nghĩa vụ của người giám hộ

Khi đã phát sinh quan hệ giám hộ, người giám hộ có trọn vẹn các quyền và nghĩa vụ pháp lý để quản lý đời sống và tài sản của người được giám hộ.

Về nghĩa vụ chăm sóc và đại diện

Tùy thuộc vào độ tuổi và tình trạng nhận thức của người được giám hộ, nghĩa vụ được phân chia cụ thể:

  • Với trẻ dưới 15 tuổi (Điều 55 BLDS 2015): Người giám hộ phải giáo dục, chăm sóc, bảo vệ và đại diện toàn diện trong mọi giao dịch dân sự, quản lý tài sản của trẻ.
  • Với người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi (Điều 56 BLDS 2015): Giảm bớt nghĩa vụ giáo dục trực tiếp, tập trung vào việc đại diện giao dịch (trừ giao dịch pháp luật cho phép trẻ tự thực hiện) và bảo vệ, quản lý tài sản.
  • Với người mất hoặc khó khăn trong nhận thức (Điều 57 BLDS 2015): Nghĩa vụ đặc thù là phải bảo đảm việc khám chữa bệnh, điều trị bệnh và đại diện xác lập các giao dịch.

Về quyền lợi của người giám hộ

Theo Điều 58 BLDS 2015, người giám hộ được quyền:

“1. Người giám hộ của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự có các quyền sau đây:

a) Sử dụng tài sản của người được giám hộ để chăm sóc, chi dùng cho những nhu cầu thiết yếu của người được giám hộ;

b) Được thanh toán các chi phí hợp lý cho việc quản lý tài sản của người được giám hộ;

c) Đại diện cho người được giám hộ trong việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự và thực hiện các quyền khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

2. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi có quyền theo quyết định của Tòa án trong số các quyền quy định tại khoản 1 Điều này.”

Cơ chế quản lý tài sản và giám sát việc giám hộ

Để ngăn ngừa hành vi trục lợi hoặc xâm phạm đến quyền lợi của người được giám hộ, BLDS 2015 thiết lập một cơ chế kiểm soát tài sản vô cùng chặt chẽ.

Nguyên tắc quản lý tài sản (Điều 59 BLDS 2015)

Người giám hộ phải giữ gìn tài sản được giao như tài sản của chính mình. Luật cấm tuyệt đối việc đem tài sản của người được giám hộ đi tặng cho người khác. Đặc biệt:

“Việc bán, trao đổi, cho thuê, cho mượn, cho vay, cầm cố, thế chấp, đặt cọc và giao dịch dân sự khác đối với tài sản có giá trị lớn của người được giám hộ phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.”

Vai trò của người giám sát việc giám hộ (Điều 51 BLDS 2015)

Người thân thích sẽ cử ra một người giám sát (hoặc UBND/Tòa án chỉ định). Người giám sát có vai trò theo dõi chặt chẽ, kiểm tra các hoạt động của người giám hộ, ký văn bản đồng ý cho các giao dịch lớn và có quyền kiến nghị thay đổi người giám hộ nếu phát hiện sai phạm nghiêm trọng.

Thay đổi và chấm dứt việc giám hộ

Quan hệ giám hộ không kéo dài mãi mãi mà có thể dịch chuyển hoặc kết thúc khi các căn cứ pháp lý thay đổi.

Thay đổi người giám hộ

Nếu người giám hộ không còn đủ điều kiện, vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ, hoặc qua đời/chấm dứt tồn tại, việc thay đổi sẽ được đặt ra theo Điều 60 BLDS 2015. Quá trình bàn giao tài sản và quyền lợi phải thực hiện nghiêm túc trong vòng 15 ngày bằng văn bản dưới sự chứng kiến của người giám sát (Điều 61 BLDS 2015).

Khi nào chấm dứt việc giám hộ?

Căn cứ theo Điều 62 BLDS 2015, quan hệ giám hộ sẽ khép lại khi:

“1. Việc giám hộ chấm dứt trong trường hợp sau đây:

a) Người được giám hộ đã có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

b) Người được giám hộ chết;

c) Cha, mẹ của người được giám hộ là người chưa thành niên đã có đủ điều kiện để thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;

d) Người được giám hộ được nhận làm con nuôi.”

Hậu quả pháp lý sau chấm dứt (Điều 63 BLDS 2015)

Khi chấm dứt, người giám hộ có trách nhiệm thanh toán tài sản và bàn giao lại toàn bộ quyền, nghĩa vụ cho người được giám hộ (hoặc người thừa kế của họ nếu họ chết) trong thời hạn từ 15 ngày đến tối đa 03 tháng. Biên bản quyết toán này bắt buộc phải có sự chứng kiến, giám sát của người giám sát việc giám hộ.

Kết luận

Các quy định về giám hộ trong Bộ luật Dân sự 2015 vừa mang tính pháp lý nghiêm minh, vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Việc nắm rõ các quy định này giúp bảo vệ tối đa quyền lợi của những người yếu thế, đồng thời giúp người giám hộ thực hiện đúng trách nhiệm của mình, tránh những tranh chấp pháp lý không đáng có trong gia đình và xã hội.

Giao dịch dân sự và điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo BLDS năm 2015

Giao dịch dân sự là công cụ pháp lý nhằm xác lập, thay đổi hoặc [...]

HỢP ĐỒNG SỞ HỮU KỲ NGHỈ: RANH GIỚI GIỮA TRANH CHẤP DÂN SỰ VÀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Thời gian qua, mô hình “Sở hữu kỳ nghỉ” phát sinh nhiều vướng mắc pháp [...]

Hộ kinh doanh không khai báo tài khoản ngân hàng thì bị xử phạt thế nào theo quy định mới 2026?

Trong bối cảnh quản lý thuế ngày càng siết chặt và xu hướng thanh toán [...]

Bồi thường thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng, được ghi nhận [...]

Dấu hiệu pháp lý và phân loại các tội xâm phạm sở hữu theo bộ luật hình sự hiện hành

Quyền sở hữu tài sản là một trong những quyền cơ bản và quan trọng [...]

Các thủ tục đăng ký hộ tịch tại UBND cấp xã mới nhất 2026

Luật Hộ tịch 2026 đã có những thay đổi đáng kể về thẩm quyền và [...]